nuoiduongtamhon

Just another WordPress.com site

DUY THỨC TẦM QUAN TRỌNG CỦA THỨC THỨ 8 (CHỨA NHÓM )TÂM LÝ NHẬN BIẾT THẾ GIỚI CỦA CON NGƯỜI

DUY THỨC HỌC

 

 

TÁM THỨC

 

 

BÌNH-LUẬN

 

            Người giỏi duy-thức là người thành-lập được duy-thức

 

          Tất cả phần trên đây là của tam-tạng pháp-sư Huyền-Cơ truyền dạy cho tôi. Cụ Huyền-Cơ là một bồ-tát tu-chứng cao, cái học thông-suốt đại-tạng, giỏi cả kinh, luật, luận, pháp-tính, pháp-tướng, cả thuyền-tôn, mật-tôn.

 

            Cụ đã nghiên-cứu hàng trăm bộ duy-thức, đã đạt tới chỗ huyền của duy-thức-học.

 

            Ngày xưa, đời Đường, sau khi du-học ở Ấn-Độ, Tam-Tạng pháp-sư Huyền-Trang lập « lượng duy-thức ». Các nhà bác-học, luận-gia ở Ấn-Độ không ai phá được. Ngài đem chân-truyền duy-thức-học về Trung-hoa.

 

            Học trò ngài là pháp-sư Khuy-Cơ nối-tiếp vẽ vang cái học của thầy, đã viết nhiều bộ duy-thức giá-trị, còn vượt hơn thầy.

 

            Nay, ngài Huyền-Cơ lại đưa duy-thức-học lên cao một từng nữa.

 

            Khoa-học, triết-học ngày nay tiến vượt bực.

 

            Phật-học, nói chung, và duy-thức-học, nói riêng, phải cao hơn hẳn khoa-học và triết-học, mới xứng đáng sứ-mệnh giải-thoát chúng-sinh.

 

            Nhà Phật-học xuất-chúng đã làm rực-rỡ Chính pháp, đã nêu cao Chính-pháp, đó là ngài Huyền-Cơ.

 

            Ngài lập thuyết duy-thức, khoa-học không phá được, triết-học cũng thế. Cho đến muông đời sau, văn minh loài người có cao đến đâu, trí-tuệ loài người có sáng suốt đến đâu, khoa-học có phát-minh bao điều kỳ-thú nữa, cũng không sao phá được, vượt được thuyết này.

 

Thế mói gọi là : « lập duy-thức »

 

*

*  *

 

ĐOẠN I

 

CHIA 8 THỨC

 

 

1)         Đứng trên cao nhìn xuống : Phật thấy toàn phần vọng-thức của chúng-sinh.

 

2)         Nay muốn tiện việc học, chia ra làm nhiều phần khác nhau.

–          Chia làm tám phần

o       Cho tiện việc học, tạm chia thức làm tám phần: bao gồm hết cả đặc-tính của thức.

3)         Lúc đầu, lập sáu phần thô : SÁU THỨC ĐẦU : PHÂN-BIỆT

–          Tiểu-thừa chỉ biết 6 thức đầu.

 

4)         Sau lập thêm hai thức :

a)      Thức thứ 7 về CHẤP NGÃ,

b)      Thức thứ 8 về CHỨA NHÓM.

 

5)         Như thế là đây-đủ về tâm-thức của chúng-sinh.

 

6)         Nắm được căn-bản đó, sau muốn chia làm mấy phần cũng được, miễn là :

 

a)      Tiện việc học

b)      Đầy đủ, không thiếu-xót.

 

*

*  *

 

ĐOẠN II

 

TU-CHỨNG

 

1)         Lúc đầu, phá ngã-chấp, thoát khỏi ràng-buộc của thân. Đó là thoát khỏi BIỆT-NGHIỆP, nhưng còn ĐỒNG NGHIỆP.

 

2)         Khi thoát khỏi nghiệp người, sang cảnh-giới khác.

 

3)         Khi thoát khỏi nghiệp chúng-sinh, đến cảnh-giới Phật.

 

4)         Lúc đó biết khác hẳn. Không nên ở cảnh-giới chung-sinh mà đoán cảnh-giới Phật. Vì cảnh-giới đó khác xa mình. Ví dụ : con kiến đoán ngoài nước Việt-Nam.

 

*

*  *

 

ĐOẠN III

 

ĐỒNG-NGHIỆP VÀ BIỆT-NGHIỆP

 

I.          Đứng trong vòng CHÚNG-SINH ở thế-giới Sa-bà này :

           

            1) Nói về « ĐỒNG      -NGHIỆP » : ĐỆ BÁT THỨC (thức thứ 8).

 

            Đúng câu : « Tam-giới duy tâm, vạn pháp duy thức ».

 

            Hay là đồng-nghiệp của tất cả chúng-sinh trong cõi của đức Phật Thích-Ca.

 

            2) Nói về « BIỆT-NGHIỆP » :

 

                        a)  Từ đệ thất-thức đến 6 thức sau.

                        b)  Có thể nói thêm : « biệt-nghiệp của đệ bát-thức ».

 

 

 

*

*  *

 

II.         LÝ-LUẬN

 

            1) Nếu trái núi đổ, quả địa-cầu quay, đó la do thức ông hay thức tôi tạo nên?

 

            2) Đáp : Đó là ĐỒNG-NGHIỆP cả thế-giới, cả Phật-sát.

 

Đồng-nghiệp cả Phật-sát gồm :

 

            a)  Hữu tình chúng-sinh.

            b)  Vô-tình chúnh-sinh.

 

*

*  *

 

 

 

ĐOẠN IV

 

KỂ TÊN 8 THỨC

 

            Tám thức là :

 

1)  Nhãn-thức  : những cái gì thuộc phạm-vi cái biết của con mắt.

2)  Nhĩ-thức : “ cái biết của tai.

3) Tỵ-thức : “ cái biết của mũi.

 

4) Thiệt-thức : “ cái biết của lưỡi.

 

5) Thân-thức : “ cái biết của thân.

6) Ý-thức :        “ cái biết của ý. Ý thức làm chủ năm thức trên. Đặc-tính là

phân-biệt.

 

          7)  Mạt-na-thức : “ chấp ngã.

 

8)      A-lại-da-thức : chứa nhóm.

 

*

*  *

 

BÌNH LUẬN

 

            Hai phần đầu sách này là thuộc phạm-vi : « THÀNH LẬP DUY THỨC ».

 

            Đây là tài-liệu của cụ Huyền-Cơ, thành-lập nền-tảng vững-chắc cho duy-thức-học.

 

            Đọc-giả nên nghiền-ngẫm kỹ-càng, sẽ nắm được phần tinh-hoa của Duy-thức-học.

 

DUY THỨC HỌC VÀ NHƠN MINH LUẬN

— o0o —

TẬP BA

DUY THỨC TAM THẬP TỤNG DỊ GIẢI

BÀI THỨ HAI 

CHÁNH VĂN

Hỏi: – Trên đã lược nói cái “tên”, nhưng chưa nói rõ cái “tướng” của thức Năng biến; vậy cái “tướng” của thức Năng biến thứ nhứt thế nào? 

Đáp:- Nguyên văn chữ Hán 

Tụng viết: 

Sơ A lại da thức 

Dị thục, Nhứt thế chủng. 

Dịch nghĩa 

Luận chủ nói tụng (10 câu) đễ trả lời rằng: Thức Năng biến thứ nhứt tên là A lại da, cũng gọi là Dị thục thức hay Nhứt thế chủng thức. 

LƯỢC GIẢI

Thức Năng biến thứ nhứt có ba tướng: 

I. Tự tướng (thể); tiếng Phạn gọi là “A lại da”, Tàu dịch là “Tàng”. Chữ Tàng có ba nghĩa: 

1. Năng tàng: Thức này có công năng chứa tất cả chủng tử (hạt giống) của các Pháp thiện ác; cũng như cái kho có công năng chứa lúa. 

2. Sở tàng: Thức này có chỗ để chứa chủng tử của các Pháp; cũng như cái kho là chỗ để chứa lúa. 

3. Ngã ái chấp tàng: Thức này thường bị thức thứ Bảy ái luyến chấp làm ngã. Nó như người giữ kho, giữ gìn chẳng cho lúa mất (chấp tàng). 

II. Quả tướng (quả), gọi là “Dị thục thức”. Chữ Dị thục có ba nghĩa: 

1. Dị thời nhi thục: Khác thời mà chín. Dụ như trái xoài, từ khi sanh cho đến khi chín, thời gian khác nhau. 

2. Dị loại nhi thục: Khác loài mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ tánh chua, đến chín lại ngọt. 

3. Biến dị nhi thục: Biến đổi khác chất mà chín. Dụ như trái xoài, khi nhỏ thì xanh, đến khi già chín biến đổi lại vàng. 

Vì thức Dị thục này lãnh thọ thân quả báo, nên gọi là Dị thục quả. Tánh chất của Dị thục quả là vô ký (không nhứt định thiện hay ác); song về nghiệp nhơn đời trước của nó, lại có thiện và ác. 

Bởi lấy nghiệp nhơn (thiện ác) đối với quả (vô ký) mà nói, nên có ba nghĩa: Khác thời gian chín (Dị thời nhi thục), khác loại mà chín (Dị loại nhi thục) và biến đổi chín (Biến dị nhi tục). 

III. Nhơn tướng (nhơn), gọi là Nhứt thế chủng tức. Tất cả các pháp hiện tượng (hiện hành) trong thế gian và xuất thế gian, đều có chủng tử (công năng tiềm tàng) của nó. Các chủng tử này đều chứa trong thức thứ Tám (tàng thức). Các chủng tử là “nhơn” khởi hiện ra các Pháp là “quả”. Vì theo “nhơn tướng” (chủng tử), nên gọi thức này là “Nhứt thế chủng”. 

Nguyên văn chữ Hán 

Bất khả tri chấp thọ 

Xứ liễu thường dữ xúc 

Tác ý thọ tưởng tư 

Tương ưng duy xả thọ 

Dịch nghĩa: 

Không thể biết hành tướng năng duyên và công năng giữ gìn chủng tử, lãnh thọ thân thể và thế giới của thức này được. Thức này thường tương ưng với năm món biến hành là: xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Song trong các thọ, nó chỉ tương ưng với xả thọ. 

LƯỢC GIẢI

Hành tướng thức Năng biến thứ nhứt rất là tế nhị ! Bởi người đời tâm thô không thể biết được, nên nói “Bất khả tri”. 

Những việc của thức này mà người đời không thể biết được, có hai phần: 

1. Thức này giữ gìn chủng tử, thế giới, thân thể và làm cho thân thể sanh ra cảm giác, lãnh thọ; nghĩa là thức thứ Tám này biến hiện ra thế giới và chúng sanh rồi giữ gìn không cho mất; đây là điều khó biết thứ nhứt. 

2. Hành tướng năng duyên (liễu) của thức này, rất sâu xa và tế nhị, đây là điều khó biết thứ hai. 

Tám thức, phân làm ba món năng biến, đều có quyền tự chủ, tự tại; cũng như vị Quốc Vương, nên gọi là Tâm vương. Song như vị Quốc vương phải có quần thần phụ tá, thì mới có thể giữ nước trị dân. Tâm vương cũng phải có bộ hạ tuỳ tùng để giúp đỡ mới hay tạo ra các nghiệp. Những bộ hạ tuỳ tùng ấy lệ thuộc Tâm vương, không được tự tại, nên gọi “Tâm sở”, hoặc gọi là “Tâm sở hữu”; nghĩa là cái sở hữu của Tâm vương. 

Lại nữa, Tâm sở đã giúp Tâm vương tạo nghiệp, thì Tâm vương với Tâm sở phải ưng thuận với nhau nên gọi là tương ưng. 

Hỏi:- Có mấy Tâm sở tương ưng với thức này? 

Đáp:- Chỉ có năm món biến hành thường tương ưng với thức này là: Xúc, Tác ý, Thọ, Tưởng và Tư. 

Xúc: Tiếp xúc. Như con mắt xem hoa, khi mới vừa tiếp xúc với hoa; đó là tác dụng của Xúc Tâm sở. Thí như hai người đồng đi một con đường; một người đi từ phương Đông đến phương Tây, một người đi từ phương Tây đến phương Đông; hai người gặp nhau một chỗ, gọi đó là xúc. 

Một thí dụ nữa, như môn Kỷ hà học: trên cái hình tròn gạch qua một đường, chỗ đụng nhau một chỗ trên đường gạch, đó là xúc. 

Tác ý: Móng khởi cái ý. Như khi muốn xem hoa, trước nhứt móng khởi cái ý; đó là “Tác ý Tâm sở”. Rồi nó dẫn dắt nhãn thức xem hoa. Nếu không có tác dụng của Tâm sở này, thì dù có gặp hoa cũng không thấy. 

Người đời có khi đi ngang qua vườn đầy hoa, mà không thấy hoa. Như thế là vì trong lúc đó, Tâm sở tác ý không có tương ưng với nhãn thức. 

Thọ: Lãnh thọ. Như khi thấy hoa, có sự cảm thọ vui buồn . 

Tưởng: Tưởng tượng. Như sau khi thấy hoa, rồi tưởng tượng hình tướng của hoa đỏ hay vàng, tốt hay xấu v.v… 

Tư: Lo nghĩ, tạo tác. Như nhơn thấy hoa, rồi lo nghĩa trồng hoa hay bẻ hoa v.v… 

Lại nữa, “Thọ Tâm sở” có 3 loại: 

1. Lạc thọ: Thọ vui. Khi gặp cảnh thuận, như được người khen ngợi, thì cảm thọ vui mừng. 

2. Khổ thọ: Thọ khổ. Khi gặp cảnh nghịch, như bị người huỷ báng hạ nhục, thì cảm thọ buồn khổ. 

3. Xả thọ: Thọ cảnh không vui buồn. Khi gặp cảnh bình thường không thuận nghịch, như trong lúc không được khen hay bị chê, thì cảm thọ không vui buồn. 

Tóm lại, thức thứ Tám này, tương ưng với 5 món Tâm sở Biến hành và hành tướng của nó rất là tế nhị, không có hiện ra khổ và vui, nên chỉ tương ưng với xả thọ. 

Nguyên văn chữ Hán: 

Thị vô phú vô ký 

Xúc đẳng diệc như thị 

Dịch nghĩa: 

Tánh của thức này là vô phú vô ký, nên những Tâm sở tương ưng với nó, như Xúc, Tác ý v.v…cũng vô phú vô ký. 

LƯỢC GIẢI

Tánh của các pháp, tóm lại có 3 loại: 1. Tánh thiện, 2. Tánh ác, 3. Tánh vô ký (không thiện không ác). 

Tánh vô ký lại chia làm 2 loại: 1. Vô phú vô ký, 2. Hữu phú vô ký – Thí như mặt gương, không phải thiện ác, dụ cho “tánh vô ký”; khi bị bụi che lấp ánh sáng, dụ cho “tánh hữu phú vô ký”. Đến lúc lau chùi sạch bụi; dụ cho “tánh vô phú vô ký”. 

Tóm lại, thức thứ Tám này không bị các phiền não ngăn che, nên thuộc về tánh vô phú vô ký. Và những Tâm sở tương ưng với thức này, như Xúc, Tác ý v.v… cũng thuộc về tánh vô phú vô ký. 
  
  

Nguyên văn chữ Hán: 

Hằng chuyển như bộc lưu 

Dịch nghĩa: 

Hằng chuyển biến như dòng nước chảy mạnh. 

LƯỢC GIẢI

Ngoại đạo chấp các pháp thường còn không mất, như thế gọi là chấp “thường”; hoặc chấp chết rồi mất hẳn, như thế gọi là chấp “đoạn”. 

Nhà Duy thức nói: Từ vô thỉ đến nay, thức này hằng chuyển biến luôn, mỗi niệm sanh diệt tương tục không gián đoạn. Cũng như nước thác, từ trên núi cao đổ xuống, một dãy trắng xoá; ở xa trông như tấm vải trắng. Vì nó hằng luôn chảy, nên chẳng phải “đoạn diệt”. Song nó liên kết tiếp tục nhiều giọt, biến chuyển sanh diệt luôn, nên không phải “thường nhứt”. 

Nguyên văn chữ Hán 

A la hán vị xả ? 

Dịch nghĩa 

Đến quả vị A la hán mới xả bỏ thức này (tàng thức). 

LƯỢC GIẢI

Hỏi: Thức này, đã sanh diệt tương tục, là gốc của sanh tử luân hồi, vậy phải tu đến địa vị nào mới xả bỏ nó được ? 

Đáp: Người tu hành đoạn hết phiền não chướng, đến quả vị A la hán, mới xả bỏ được thức “A lại da”. Song chỉ xả bỏ cái “danh”, chớ không phải xả bỏ cái “thể” của thức này. 

Hỏi: Tại sao không xả bỏ cái “thể” của thức này? 

Đáp: Cái “thể” của thức này có hai phần: nhiễm và tịnh. Phần tịnh tức là “Trí”. Trong bài tụng nói “xả bỏ thức này”, tức là chuyển thức thành trí, chớ không phải xả bỏ. Nếu xả bỏ cái “thể” của thức này, thì thành ra đoạn diệt, thuộc về ngoại đạo. Trong Đạo Phật không có chủ trương đoạn diệt (mất hẳn).

 

Advertisements

Single Post Navigation

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: