nuoiduongtamhon

Just another WordPress.com site

GIẢI THỂ HỆ TƯ TƯỞNG

GIẢI THỂ HỆ TƯ TƯỞNG:

quan niệm của xã hội học phương Tây, cho rằng hệ tư tưởng phản ánh và phục vụ lợi ích của những giai cấp, những tập đoàn nhất định trong xã hội, do đó mang tính chủ quan, xuyên tạc hiện thực; vì vậy cần giải phóng triết học và các ngành khoa học nói chung khỏi sự thống trị của hệ tư tưởng. Cũng có một quan niệm khác dường như đối lập, đề xướng “phục hồi hệ tư tưởng”, tức là xây dựng một hệ tư tưởng mới, phù hợp với bản chất bình thường của con người. Về thực chất, cả hai quan niệm đều là tư sản, nhằm chống lại hệ tư tưởng macxit.

Trong xã hội, sản xuất tinh thần phụ thuộc vào tính chất sản xuất vật chất của thời đại. Tri thức khách quan (khoa học) là sản phẩm mang tính xã hội. Những sản phẩm tư tưởng phản ánh tồn tại xã hội càng mang tính xã hội đậm nét: hệ tư tưởng trong xã hội có giai cấp, tất yếu mang tính giai cấp (thể hiện lợi ích, mục đích của giai cấp). Trong tiến trình lịch sử, hệ tư tưởng của giai cấp tiến bộ góp phần hình thành hệ tư tưởng khoa học; hệ tư tưởng của giai cấp lỗi thời, tất yếu mang tính bảo thủ, phản ánh hiện thực một cách xuyên tạc, ảo tưởng. Hiện nay, hệ tư tưởng của giai cấp công nhân – chủ nghĩa Mác – là hệ tư tưởng duy nhất đem lại một sự phân tích hiện thực mang tính khoa học và khách quan; điều đó bắt nguồn từ chỗ: giai cấp công nhân có sứ mệnh lịch sử là xoá bỏ giai cấp, xây dựng xã hội không giai cấp, trong đó dĩ nhiên là tính giai cấp cũng sẽ không còn.

Họ đang nói gì về học thuyết C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin? – Vận mệnh học thuyết của các ông

19.06.2010 15:41

Bài viết Kỷ niệm 190 năm ngày sinh Các Mác (5-5-1818 – 5-5-2008), tác giả: PGS, TS Đức Vượng

1. Hiện nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng trên thế giới, nhất là trên mạng internet, bắt gặp nhan nhản những bài viết về học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin. Những người có trình độ, trung thực, lương tri, thì đánh giá học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin một cách khách quan, mặt được, mặt cần phải phát triển trong thời đại mới. Những người có ý đồ thù địch với những tư tưởng của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin, thì bôi nhọ học thuyết của các ông, thậm chí từ chỗ ghét bỏ học thuyết của các ông đi đến chỗ bôi nhọ đời tư của các ông. Thật là bất công trong việc đánh giá một học thuyết, một con người cụ thể. Chung quy lại, họ phê phán học thuyết của các ông thể hiện trên các khía cạnh: rằng, chỉ có thể tạm gọi học thuyết Mác là khoa học, còn Lênin ghi dấu ấn “riêng Nga”, mang yếu tố thời sự chính trị hơn là khoa học; rằng, học thuyết của các ông mang yếu tố bạo lực hơn là yếu tố xây dựng một xã hội mới, cho nên, nếu cứ vận dụng mãi học thuyết này, thì thế giới sẽ không tiến lên được; sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu âu chứng minh cho sự cáo chung của chủ nghĩa Mác – Lênin trong thời đại mới. Tại một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại, họ phê phán về sự kết hợp giữa yếu tố kinh tế thị trường với yếu tố xã hội chủ nghĩa là sự gán ghép khiên cường; giữa nhà nước pháp quyền với nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng là gán ghép khiên cưỡng. Tại phương Tây, người ta khuyên nên đi theo con đường chủ nghĩa xã hội dân chủ và từ bỏ con đường chủ nghĩa xã hội khoa học. Cũng tại phương Tây, người ta vẫn tiếp tục tuyên truyền cho thuyết “giải thể hệ tư tưởng” mà một trong những tác giả của nó là nhà xã hội học Mỹ Benlơ. Đây là một quan điểm của những nhà tư bản thống trị được tích cực sử dụng để chống lại hệ tư tưởng và phá vỡ cơ sở tư tưởng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Những người theo trường phái thuyết này viện cớ trong lịch sử thế giới không hề có một hệ tư tưởng nào gọi là khoa học, cho nền cần phải giải thể hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Họ lập luận rằng, nếu như ở các nước xã hội chủ nghĩa, hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác giữ địa vị thống trị, thì ở các nước phương Tây dường như không có hệ tư tưởng nào giữ địa vị thống trị cả, mà chỉ có ngành khoa học xã hội thuần tuý như xã hội học, chính trị học, triết học, luật học,…, rằng, chính ngành khoa học xã hội thuần tuý là phù hợp với thời đại có tiến bộ khoa học và công nghệ và sự hợp lý hoá ngày càng cao mọi mặt trong đời sống xã hội, cho nên thời đại đó không còn chỗ đứng cho bất kỳ hệ tư tưởng nào.

 

Nguyên nhân gây nên sự lộn xộn trong việc đánh giá học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin là do những quan điểm chống đối của các thế lực thù địch với chủ nghĩa Mác – Lênin; nguyên nhân của sự bất mãn; nguyên nhân của việc nghiên cứu lý luận Mác – Lênin chưa đến nơi đến chốn; phương pháp nghiên cứu còn một chiều, coi học thuyết của các ông như “thánh sống”, bất di bất dịch; nguyên nhân của sự chưa nhuần nhuyễn phương pháp quan điểm lịch sử, lô gích, cụ thể, toàn diện, khách quan và đặc biệt là quan điểm phát triển. Thực ra sinh thời C. Mác, Ph. Ăngghen và cả V. I. Lênin sau đó cũng nhắc lại là học thuyết của các ông không phải là học thuyết giáo điều, khô cứng, đứng yên tại chỗ, mà là kim chỉ nam cho hành động. Nghiên cứu về lịch sử các học thuyết của nhân loại từ trước tới nay, thấy rằng, chưa có học thuyết nào đúng 100%, kể cả học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin. Tương tự như vậy, cũng chưa có học thuyết nào sai 100%. Chỉ có tỷ lệ cao, thấp, đúng, sai của từng học thuyết. Vì vậy, vấn đề đặt ra chỉ là tương đối. Tuyệt đối hoá vấn đề sẽ sa vào chủ quan duy ý chí. Quan điểm đúng đắn nhất hiện nay là tiếp thu những tinh tuý, sự lựa chọn trong học thuyết C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin mà đảng chính trị phải có trách nhiệm phát triển sáng tạo lên. Phải chấp nhận có những điểm phát triển sáng tạo, mà rồi những nguyên lý gốc chỉ còn là “cái bóng lờ mờ” và chính sự phát triển sáng tạo sẽ làm cho “cái bóng lờ mờ” đó được sáng tỏ lên.

 

2. Nhìn lại lịch sử phát triển học thuyết Mác – Lênin, thấy rằng, không phải hiện nay, các thế lực thù địch mới ra sức chống phá, mà ngay trong lúc sinh thời cũng đã có nhiều người xông vào “ăn thịt” học thuyết của các ông. Họ cố hạ lá cờ chủ nghĩa xã hội khoa học xuống và muốn trương lá cờ chủ nghĩa xã hội dân chủ lên. Sự thực, đây là cuộc đấu tranh lý luận vật lộn gay go, phức tạp, nhưng cuối cùng, học thuyết Mác – Lênin về cơ bản, vẫn được khẳng định trong thời đại ngày nay, bởi vì học thuyết đó là khoa học chính trị khi nó nhằm giải quyết vấn đề giải phóng xã hội, giải phóng giai cấp, giải phóng con người; giải quyết vấn đề độc lập dân tộc để xây dựng xã hội mới, nhà nước mới của những người lao động; nó xác định quyền lãnh đạo xã hội thuộc về những người lao động, quyền làm chủ thuộc về nhân dân, chứ không phải thuộc về một nhóm người tư sản; thực hiện nền dân chủ rộng rãi trong một xã hội văn minh, văn hoá, đạo đức, pháp lý; xoá bỏ mọi áp bức, bất công, đói nghèo, lạc hậu, xây dựng một xã hội giàu có, ấm no, tự do, hạnh phúc, tất cả đều sống trong bầu không khí hoà bình và ổn định.

 

Thời C. Mác, Ph. Ăngghen sống, các ông đã phải bao phen vật lộn đấu tranh quyết liệt với những trường phái tư tưởng khác nhau, ngay cả trong nội bộ của Liên đoàn những người cộng sản. Năm 1850, trong Liên đoàn những người cộng sản hình thành một nhóm biệt phái “tả khuynh”, đứng đầu là A. Vinlích và C. Sáppơ. Trong một bài giảng về “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tại Hội Khai sáng công nhân Đức ở Luân Đôn, C. Mác xác định tính tất yếu của cách mạng, nhưng do hoàn cảnh thay đổi, cho nên phải có giai đoạn tạm thời không cách mạng ở châu âu và chỉnh lý lại sách lược của Liên đoàn những người cộng sản, rằng, “không thể đạt tới chủ nghĩa cộng sản ngay lập tức, mà chỉ có thể đạt tới chủ nghĩa đó qua mấy giai đoạn phát triển cách mạng, rằng, trước khi bắt tay vào những công cuộc cải tạo cộng sản chủ nghĩa, thì cần phải giải quyết những nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân chủ tư sản”(1). A. Vinlích kịch liệt phản đối lập luận này của C. Mác. ông “phủ nhận tính tất yếu của những tiền đề vật chất nhất định để xác lập chủ nghĩa cộng sản và có ý đồ xác lập chủ nghĩa đó ngay lập tức, bằng ý chí của một số ít người”(2). A. Vinlích và C. Sáppơ kiên quyết chống lại sách lược của Liên đoàn những người cộng sản do C. Mác và Ph. Ăngghen đề xuất. Họ đẩy Liên đoàn vào con đường phiêu lưu, gây ra ngay cuộc cách mạng non ở Đức. C. Mác gọi hành động đó là “trò chơi cách mạng”, phiêu lưu, có hại, chứ không phải là một sự chuẩn bị nghiêm túc cho những trận chiến đấu cách mạng tương lai. Đấu tranh chống những người biệt phái, C. Mác chỉ ra rằng, cơ sở lý luận, tư tưởng của chủ nghĩa phiêu lưu trong chính trị của họ là sự tách rời cuộc sống, biểu hiện của sự chủ quan, duy ý chí. Cuộc đấu trí tư tưởng lý luận này, phần thắng đã thuộc về C. Mác, vì đa số những người trong Liên đoàn những người cộng sản đã nhận ra chân, giả và ủng hộ quan điểm tư tưởng lý luận của C. Mác.

 

Sau khi đánh bại nhóm Vinlích – Sáppơ về quan điểm tư tưởng lý luận, C. Mác lại tiến hành cuộc đấu tranh quyết liệt chống Pruđông cũng trên phương diện quan điểm tư tưởng lý luận. Tháng 7 – 1851, C. Mác đọc cuốn sách của P. C. Pruđông xuất bản ở Pari: “Tư tưởng chung của cách mạng trong thế kỷ XIX”. Trong cuốn sách này, Pruđông tuyên truyền lý luận không tưởng về việc thực hiện cuộc cách mạng xã hội bằng con đường hoà bình, thuần tuý “kinh tế”, bằng cách tổ chức việc giúp đỡ lẫn nhau và tín dụng, thành lập ngân hàng trao đổi, giảm lợi tức cho vay và những cải cách khác, không cần chính phủ, không cần cơ cấu nhà nước, không cần một nền dân chủ. Quan điểm của Pruđông là làm theo cách đó, dần dần, chủ nghĩa tư bản sẽ biến thành chủ nghĩa xã hội.

 

Sau khi đọc xong cuốn sách của Pruđông, C. Mác quyết định phê phán quan điểm sai trái của Pruđông trên báo chí. Theo C. Mác, đây thực chất là quan điểm của những phần tử cải lương. Những lời Pruđông kêu gọi thực hiện hoà bình giai cấp và giải quyết vấn đề xã hội bằng con đường cải cách là vô chính trị, không thể chấp nhận được. Trong thư gửi Ph. Ăngghen, ngày 8 và 14-8-1851, C. Mác đánh giá cuốn sách của Pruđông là “một cuộc bút chiến chống chủ nghĩa cộng sản”(3). Ph. Ăngghen viết thư trả lời tán thành nhận xét của C. Mác.

 

Ngoài ra, thời C. Mác và Ph. Ăngghen còn đương đầu với nhiều cuộc đấu tranh quyết liệt về quan điểm tư tưởng lý luận, bảo vệ đến cùng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học, trong đó, có cuộc đấu tranh chống những tư tưởng sai trái của Đuyrinh. Sở dĩ cuối cùng thì lý luận của các ông vẫn thắng, vì chính bản thân lý luận của các ông có những nhân tố hợp lý trong việc giải quyết các vấn đề xã hội và chính trị.

 

Đến thời V. I. Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học cũng liên tiếp bị những quan điểm chống đối tấn công. V. I. Lênin cũng đã bao phen vật lộn với những quan điểm của Tơrốtki, Cauxki, Dinôvêép, Camênhép, Bukharin,… Những người này rất “tả” khuynh, cho rằng, học thuyết cách mạng chỉ nhằm giải quyết vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, chứ không thể có vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, trong khi đó, quan điểm của V. I. Lênin rất rõ rang: giai cấp công nhân và các dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới đoàn kết lại cùng tiến hành cách mạng. Cuộc đấu tranh về quan điểm tư tưởng lý luận thời V. I. Lênin kéo dài nhiều năm, tháng, lúc nổi, lúc chìm, vật vã để chiến thắng.

 

Sau khi V. I. Lênin mất, sự khác nhau về quan điểm tư tưởng lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học vẫn tiếp diễn cho đến ngày nay vẫn chưa chấm dứt, vẫn gặp những trận phong ba bão táp, ít có những ngày trời xanh, biển lặng. Nhưng chính trong sóng gió bão bùng, học thuyết của các ông vẫn được khẳng định cùng thời gian, vì nói chung, nó phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người.

3. Vậy những điểm cơ bản trong học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin là những vấn đề gì và phát triển học thuyết đó như thế nào cho phù hợp với xu thế phát triển của xã hội loài người?

 

Từ trước tới nay đã có rất nhiều người viết và nói về những điểm cơ bản trong học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin. I. V. Xtalin thì cho rằng, vấn đề cơ bản trong học thuyết của V. I. Lênin (trước đó là C. Mác, Ph. Ăngghen) là học thuyết về chuyên chính vô sản, về giai cấp và đấu tranh giai cấp. Nhiều người cho rằng, học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen là học thuyết về sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân đại công nghiệp, học thuyết về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội khoa học. Học thuyết của V. I. Lênin là học thuyết nhằm giải quyết vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc trên phạm vi toàn thế giới.

Có điểm chung nhất trong học thuyết của các ông chính là giải quyết vấn đề thay đổi chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa. Về vấn đề này, xét về tư duy khoa học là hoàn toàn đúng, vì nó phản ánh sự phát triển của xã hội loài người. Tiếc rằng, về phương pháp nghiên cứu, các ông còn thiên về lý luận hơn là bàn đến vấn đề tổ chức thực tiễn và vấn đề con người, vấn đề cán bộ. Các ông cũng chưa dự đoán được sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hiện đại, nhất là về khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Từ cái máy hơi nước của thế kỷ XIX đến sự phát triển của công nghệ tin học ngày nay là một bước phát triển nhảy vọt về chất mà qua những tháng, năm lịch sử chẳng ai đoán trước được. Có người nói rằng, sự phát triển của khoa học và công nghệ đã đẩy lùi các học thuyết về phía sau.

Phát triển học thuyết Mác – Lênin trong thời đại ngày nay, trước hết, phải tính đến hoàn cảnh của thế giới và của từng riêng mỗi quốc gia mà định chính sách cho đúng. Bài học lịch sử để lại là giai đoạn hoạt động cuối của Quốc tế Cộng sản đã áp đặt một mô hình chung cho tất cả các nước, các đảng cộng sản theo một khuôn định sẵn. Nhiều nước, nhiều đảng cộng sản thấy mô hình đó không phù hợp với nước mình, đảng mình, cho nên không áp dụng được. Rút cục, bản thân Quốc tế Cộng sản cũng phải tuyên bố tự giải tán vào năm 1943 sau 24 năm tồn tại. Mọi chính sách phải có sự điều chỉnh kịp thời một khi xét thấy nó không còn phù hợp. Để cho chính sách lạnh giá như một tảng băng, thì khi tảng băng đó gặp nóng sẽ tan ra và cuốn trôi chính sách đi. Chính sách kinh tế phải gắn rất chặt với chính sách xã hội. Sự nổi lên của chính sách kinh tế và sự chìm xuống của chính sách xã hội sẽ làm cho bộ mặt xã hội xộc xệch, đời sống nhân dân rất khó khăn.

4. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở châu âu trong các năm 1990, 1991 đã để lại trong long những người cộng sản một nỗi buồn man mác, khó tả. Nhiều người cố gượng dậy, nhưng không làm sao gượng dậy được và họ đã nằm im. Nhiều người lúng túng về hướng đi mới. Vì vậy, vấn đề đặt ra hiện nay là phải bằng vũ khí lý luận sắc bén để phát triển học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin trong thời đại mới. Chúng ta không phủ nhận học thuyết của các ông, nhưng cũng không thể áp dụng 100% học thuyết đó vào việc định đường lối, chính sách, bởi vì một lẽ đương nhiên là các ông sống vào thế kỷ XIX và những thập kỷ đầu thế kỷ XX, còn chúng ta lại đang sống ở thập kỷ đầu thế kỷ XXI. Muốn vậy, trong nghiên cứu lý luận phải có sự phát triển. Minh hoạ lý luận lúc này sẽ sa vào giáo điều. Nhưng nếu chúng ta vứt bỏ những nguyên lý gốc, thì có khác gì kéo sập toà nhà cũ xuống để thay toà nhà mới khác, mà phải làm thế nào đó để cho toà nhà cũ còn nền móng vững chắc, “nâng cấp” cho nó đẹp lên, vững chãi hơn. Trên tinh thần đó, chúng ta tìm cái tinh tuý trong học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phát triển nhân lên trong tình hình mới, hoàn cảnh mới.

 

Chủ nghĩa xã hội khoa học đang được phát triển ở Việt Nam, Trung Quốc, đang hấp dẫn đối với các nước ở Trung Mỹ, Nam Mỹ. Những nước này đã bắt đầu nhìn ra cái “độc tài mới của chủ nghĩa tư bản đế quốc mới” như một chính sách Nam Mỹ đã nói. Dù sao, chủ nghĩa tư bản (đế quốc) mới còn rất mạnh, mặc dù nó đã bị những vết thương đau ở Irắc,… Sức mạnh của họ về kinh tế và quân sự không thể xem thường. Ai đó cho rằng, nó sẽ sụp đổ trong ngày một, ngày hai lại là không tưởng.

Có người nói chủ nghĩa xã hội khoa học đang đứng trước ngã ba đường. Đi đâu, về đâu và đi bằng phương tiện nào trong lúc này là cả một sự tính toán công phu. Có điều là những vấn đề lý luận – thực tiễn mà C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin, Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta vẫn là kim chỉ nam cho việc vạch đường lối. Củng cố và phát triển hệ tư tưởng của chủ nghĩa xã hội khoa học trong hoàn cảnh mới, điều kiện mới là nhiệm vụ của những nhà hoạch định chính sách và những nhà nghiên cứu lý luận.

Chúng ta tin tưởng rằng, vận mệnh của học thuyết Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sẽ ngày càng được khẳng định trong trái tim nhân loại nếu chúng ta biết phát triển nó, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội phát triển tới trình độ dân chủ cao, văn minh, văn hoá.

Vận mệnh học thuyết của C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin do những người phát triển học thuyết đó quyết định.

Về đặc điểm tư tưởng Việt Nam

Thứ bảy, 26 Tháng 9 2009 01:34 Trần Đình Hượu

 

 

Lịch sử tư tưởng Việt Nam có hai đoạn hoàn toàn khác nhau – Từ khi nước ta tiếp xúc với phương Tây, du nhập tư tưởng phương Tây tức là từ đầu thế kỷ XX cho đến nay. Đó là thời đại mới. Tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hoà giòng vào tư tưởng đồng đại của thế giới. – Đoạn trước đó, khi nước ta còn nằm trong văn hoá có tính chất khu vực – vùng Đông Á và Đông Nam Á – tư tưởng nước ta có những nét chung của tư tưởng cả khu vực đó.
Đối với đoạn sau vấn đề đối tượng và phương pháp nghiên cứu không có gì phải bàn cãi nhiều. Đó là đối tượng và phương pháp chung khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước. Nhưng với đoạn trước thì công việc phức tạp hơn. Tư tưởng hay triết học ở đây cũng đặt ra rất nhiều vấn đề nhưng không giống cách ở phương Tây, nơi đã cung cấp cơ sở để hình thành phương pháp nghiên cứu hiện đại.

Trong một thời gian dài ước tính từ thế kỷ II sau công nguyên cho đến đầu thế kỷ này, ở nước ta có sự tồn tại song song của Tam giáo, du nhập từ Trung Quốc vào. Tam giáo có thay thế nhau giữ vai trò hàng đầu nhưng thực tế là kết hợp với nhau, thẩm thấu vào nhau, chia phạm vi với nhau, chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ta. Bên cạnh Tam giáo là sự tồn tại của cách suy nghĩ dân gian để dấu vết lại trong các truyện kể và kết tinh trong tục ngữ. Cũng cần nói đến học thuyết Âm dương, Ngũ hành, cách phân tích Thời, Thế… cũng là những tư tưởng du nhập từ Trung Quốc và cũng tồn tại không hoàn toàn độc lập với Nho giáo. Tư tưởng đó ảnh hưởng lớn đến các khoa học, giả khoa học và cách suy nghĩ, tính toán trong cuộc sống. Sự kết hợp phức tạp giữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam giáo với cách suy nghĩ dân gian, giữa những thứ đó với Âm dương, Ngũ hành để tìm cách quan niệm thế giới, quan niệm con người, cuộc sống, quan niệm sự vận động, sự đổi thay lịch sử… đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam.

Tư tưởng Việt Nam không chỉ là cái thổ sản thuần Việt, mà còn có cả nhiều cái từ ngoài đến, có khi được cải tạo, có khi để nguyên dạng, nhưng đều được sắp xếp theo một cách nào đó hay sử dụng theo một cách nào đó. Cái này mới là mấu chốt của bản lĩnh và ưu nhược điểm của cái này mới là cái chi phối sâu xa tư duy Việt Nam.

Tam giáo đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta, được truyền bá với sự xâm lược quân sự từ đời Hán, với chính quyền đô hộ hàng ngàn năm và với những lớp người Hán tỵ loạn sang Giao châu, mảnh đất lúc ấy yên ổn hơn nội địa. Những người Hán quan lại hay không phải quan lại, mang đến đây cả Nho giáo cả Đạo giáo (cả Đạo giáo thần tiên và Đạo giáo phù thủy). Đối với Phật giáo thì tình hình có khác. Nằm trên con đường biển từ Ấn Độ sang phương Nam và Trung Quốc, vùng ven biển nước ta đã biết đến Phật giáo từ trước. Cuối đời Hán, Luy lâu (Thuận Thành – Hà Bắc) đã là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng. Các nhà nghiên cứu đã chứng minh trung tâm Luy lâu còn ra đời trước cả trung tâm Bành thành và Lạc dương ở Trung Quốc [1] , và về đường biển thì Phật giáo từ Việt Nam mà vào Trung Quốc. Thế nhưng đối với chính quyền và từng lớp trí thức thượng lưu thuộc người Hán vào mấy thế kỷ sau thì Phật giáo ở đây cũng đã phát triển theo ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc. Ở Trung Quốc từ Hán Võ đế đã tìm ra phương thức  Nho Pháp tĩnh dụng cho việc trị nước, bảo vệ chế độ chuyên chế. Tư tưởng, học thuật trong tình hình đó cũng phát triển theo xu hướng dung hợp Hoàng Lão, Âm dương, Ngũ hành với Nho giáo. Nho giáo, được tôn làm quốc giáo, cũng đến đây mới bắt tay vào công việc hệ thống hoá: xác định thành phần kinh điển, xác định văn bản và giải thích chính thức các luận điểm. Gói hành lý tinh thần mà các nhà trí thức người Hán mang vào vùng đất mới Giao châu là hỗn tạp như vậy. Nhưng liệu những thứ đó truyền bá được đến mức nào trong đám cư dân vốn giữ nguyên tổ chức công xã với những phong tục, tín ngưỡng của mình? Và nền học thuật đó quan hệ như thế nào với Phật giáo đã có thời gian trước để bám rễ vào nhân dân? Điều đáng chú ý là Nho giáo tuy vào sớm và chắc chắn được bộ máy thống trị ưu tiên truyền bá – chứng cớ là những điều sử sách ghi chép về sự nghiệp của Nhâm Diễn, Tích Quang, Sỹ Nhiếp – thế nhưng trong thực tế thì nó phát triển chậm, chậm so với Phật giáo và Đạo giáo. Mãi đến thế kỷ XI, nhà Lý mới xây dựng Văn miếu, tổ chức thi cử. Tuy vậy các vua nhà Lý và cả Trần nữa, vẫn tìm chỗ dựa chính ở Phật giáo. Từ giữa thế kỷ XV Nho giáo mới thành độc tôn, chi phối mọi mặt hoạt động. Nói độc tôn là nói Nho giáo thay Phật giáo, nhà nho thay nhà sư trong đời sống chính trị nhà nước, còn trong xã hội thì Phật giáo, Đạo giáo vẫn còn ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân.

Nho giáo vốn không phải thuần nhất, có hệ thống chặt chẽ, càng về sau, khi đồng chức năng ý thức hệ chính thống, để giải đáp nhiều vấn đề thực tế và ứng phó với các học thuyết khác (nhất là Phật giáo) Nho giáo lại càng phải vay mượn, dung hợp nhiều hơn. Nhà Nho, nhất là nhà Nho từ Đường Tống về sau, càng ít thuần nhất; trong họ thành phần tư tưởng Âm dương, Lão Trang, Phật thường là không nhỏ. Thứ Nho giáo được truyền bá vào và có ảnh hưởng nhiều ở Việt Nam là thứ Nho giáo hậu kỳ. Trong lịch sử Nho giáo ở Trung Quốc từ thời Xuân thu, Chiến quốc cho đến đời Hán, việc học tập kinh điển tiến hành theo lối sư truyền trực tiếp, ảnh hưởng khó rộng rãi. Sau nạn đốt sách của nhà Tần, triều đình nhà Hán mới sưu tập lại kinh điển, đặt các chức bác sĩ ngũ kinh để giảng dạy và tiến hành với quy mô to lớn và lâu dài việc xác định thành phần kinh điển, văn bản và nội dung kinh điển. Đến đời Hán Linh đế (Hy bình năm thứ 4) mới chọn định bản khắc vào bia đá, dựng trước nhà Thái học. [2] Qua một thời gian loạn ly dài, nhất là do tình hình phân tranh Nam Bắc từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, ý kiến đã trở thành rất phân tán. Đường Thái Tông lại sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số người khác soạn Ngũ kinh chính nghĩa để thống nhất kinh điển [3] một lần nữa. Từ Hàn Dũ (768 – 824) đời Đường đến đời Tống có một xu hướng khôi phục lại Nho giáo đối lập với Phật giáo và Đạo giáo – với ý nghĩa là tôn giáo – kết tinh lại thành học thuyết Tống Nho với tên tuổi nổi bật là Chu Hy (1130 – 1200). [4] Về mặt lịch sử tư tưởng, ở đời Tống, Trình Chu không phải là phái duy nhất, cũng không phải là phái tiến bộ nhất. Nhưng ảnh hưởng của học phái đó ngay từ đời Nguyên ở phương Nam đã rất lớn. Đến đời Minh mà giòng họ trị vì là con cháu Chu Hy thì cách giải thích kinh điển của Chu Hy được coi là chính thống. Năm 1414 Minh thành tổ giao cho Hồ Quảng biên soạn Tính lý đại toàn, trình bày học thuyết Tống nho. [5]

Trong lịch sử tư tưởng nước ta thứ Nho giáo đời Hán, đời Đường chắc cũng có vào nước ta nhưng ảnh hưởng chắc chỉ hạn chế trong đám người Hán di cư. Còn Tống nho thì do sự tiếp xúc khá mật thiết của nước ta dưới thời Lý Trần với phương Nam Trung Quốc, do sự đô hộ của nhà Minh nên ảnh hưởng nhanh chóng và rộng rãi hơn. “Đại Việt sử ký toàn thư” chép: “Năm Kỷ Hợi (1419). Mùa xuân. Tháng hai. Nhà Minh sai giám sinh Đường Nghĩa sang ban các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn, Vi thiện âm chất, Miếu thuận sự thực cho Nho hc các ph châu huyn” (T. Đ.H. gạch dưới). [6] Đến năm 1435 nhân có phái đoàn sang chúc mừng vua Minh lên ngôi, vua nhà Minh lại “ban sách Tứ thư đại toàn mới in xong.” [7] Cũng cần nhắc đến chiếu định khoa thi của Lê Thái Tôn năm 1434 và quy định môn thi “kỳ thứ nhất một bài kinh nghĩa, Tứ thư mỗi sách một bài.” [8] Tách hai thiên Trung dung, Đại học trong Lễ ký thành sách, phân chương mục, chú thích và đưa hai quyển điển như Ngũ kinh là việc làm của Trình Di và Chu Hy. Đến thời Nguyên Nhân tôn (1312 – 1320) thì Tứ thư thành kinh điển dùng cho việc thi cử. [9] Ở nước ta năm 1396 cũng bắt đầu “theo phép thi của nhà Nguyên.” [10] Cũng cần nhắc thêm là trước đó Chu Văn An (… – 1370) đã soạn Tứ thư thuyết ước. Từ đó cho đến thế kỷ XIX uy tín của Trình Chu trong việc giải thích kinh điển là tuyệt đối.

Nói Nho giáo được độc tôn không có nghĩa là Phật giáo, tư tưởng Lão Trang và Đạo giáo bị phủ định. Về mặt nội dung, Tống nho là một hệ thống hỗn hợp Nho Phật. Về mặt vai trò xã hội hầu như đã thành sự thoả thuận với nhau giữa Tam giáo về một sự phân công, phân vùng. Nho giáo dành toàn quyền trong việc học hành thi cử – với ý nghĩa đào tạo nhân tài cho bộ máy nhà nước.Trong các địa hạt khác như xã hội, văn học nghệ thuật tín ngưỡng… Tam giáo song song tồn tại. Có những địa hạt, có những địa phương Nho giáo không phải là có thế lực nhất. Trong một con người – kể cả nhà Nho – về mặt người dân, họ chịu sự chi phối của tư tưởng Nho giáo, nhưng về mặt con người, về đạo đức, tín ngưỡng, cách sống… nhiều khi họ chịu ảnh hưởng Phật hay Lão Trang còn nhiều hơn.

Điều cần đặc biệt lưu ý là một khi các triều đại giành được độc lập, chấm dứt sự đô hộ của phong kiến Trung Quốc, thì cũng không thể tự do xoá bỏ những tổ chức, thể chế đã hình thành qua hàng ngàn năm Bắc thuộc. Các triều đại Lý Trần Lê đều đã kế thừa và bắt chước cách tổ chức chính quyền (cùng với chế độ chọn người bằng khoa cử) theo kiểu Trung Quốc. Với mô hình tổ chức nhà nước trung ương tp quyn cao đ + làng xã t tr + tôn tc thì Nho giáo tỏ ra có ưu thế nhất, thích hợp nhất. Nho giáo giúp các triều đại đó củng cố sự thống trị mà cũng giúp nó củng cố sự thống nhất đất nước vào chính quyền trung ương, tăng cường trách nhiệm của người dân đối với nhà nước. Các vị anh quân và cả những nhà yêu nước lớn như Nguyễn Trãi chăm lo, phát triển Nho giáo học, xây dựng Tư văn, tổ chức học hành thi cử, lo biên soạn quốc sử, khuyến khích văn học… đều theo lời khuyên của thánh hiền, đều theo trị đạo của Nho giáo. Việc phát triển nho học, đưa nhà nho vào chính quyền thay thế nhà sư và quý tộc, kéo dài từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, cho ta thấy xu hướng chung là Hán hoá. Về tư tưởng thực tế Hán hoá không chỉ là ở việc Thiền tông thay cho Phật giáo chịu ảnh hưởng Ấn Độ, ở việc Nho giáo có ảnh hưởng càng ngày càng sâu rộng trong thời độc lập mà còn cả ở việc tông phái Lâm tế của Phật giáo Trung Quốc được truyền bá phổ biến cả ở Bắc hà và Nam hà vào quãng thế kỷ XVII [11] thay cho Thiền phái Trúc lâm. Ở đây trong lịch sử đã có một sự chuyển vùng về văn hoá từ Đông Nam Á sang Đông Á. Bọn xâm lược Trung Quốc chiếm được vùng đất miền Bắc nước ta, biến nó thành quận huyện nội thuộc là tách nó ra khỏi thế phát triển của vùng Đông Nam Á. Trong hàng ngàn năm chính quyền đô hộ xúc tiến quá trình Hán hoá, khi đã dành được độc lập, các triều đại, kể cả chính quyền chúa Nguyễn ở Nam hà, cũng tiếp tục con đường Hán hoá đó. Đó là quyền lợi của giai cấp thống trị nhưngkhông phương hại cho sự nghiệp bảo vệ độc lập và phát triển dân tộc. Nước ta từ đời Lý Trần đã thành nước có văn hiến cao hơn các nước Đông Nam Á cùng thời. Hậu quả tất nhiên không chỉ có một mặt tích cực. Tuy chính quyền ra sức xúc tiến nhưng trong một đất nước tuy đã thống nhất về lãnh thổ, về ngôn ngữ, về lịch sử – tức là đã có sự hình thành dân tộc về cơ bản – mà sự giao lưu giữa các vùng rất bị hạn chế và chưa có ý nghĩa kinh tế; trong trong điều kiện tổ chức xã hội làng xã khép kín, sống bằng nền kinh tế nông nghiệp và thủ công nghiệp tự túc, thoả mãn nhu cầu trao đổi hàng hoá ở các chợ nhỏ địa phương; trong điều kiện sự gia nhập của các vùng vào đời sống dân tộc trên quá trình Nam tiến xảy ra vào những thời điểm xa nhau thì có những vùng có thể nói thực tế Hán hoá, ảnh hưởng Nho giáo hay Phật giáo kiểu Trung Quốc là không đáng kể. Có thể nói trong đời sống chung của cả đất nước thì sắc thái Đông Nam Á vẫn là nền tảng, nhiều khi các yếu tố Hán tuy có vào, thậm chí là vào lâu, vẫn không phá vỡ được. Điều đó có thấy rất rõ ở các vùng trước đây không được coi là “đất văn vật”. Sự phá vỡ không nổi sắc thái bản địa đó là cơ sở cho một số người nói quá trình phát triển lịch sử ở Việt Nam là quá trình phi Hán hoá hay nói trong tư tưởng Việt Nam, Nho giáo chỉ là cái vỏ, cái áo khoác ngoài. Tôi không bàn vấn đề này trên bình diện văn hoá một cách rộng và tổng quát. Địa bàn mà ta bàn ở đây hay đối tượng mà xem xét ở đây là tư tưởng – và tư tưởng không phải hiểu theo nghĩa là tổng số các thành tựu về tư duy, tổng cộng các tư tưởng về kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự, khoa học… Mà là tư tưởng khái quát đi đến triết học. Ở đây giai cấp cầm quyền, những lớp người trí thức, những vùng văn vật có vị trí chi phối. Hán hoá về tư tưởng thực ra không đơn giản chỉ là khoác áo Nho giáo hay Tam giáo ra ngoài cái nội dung tư tưởng bản địa hay nhét cái nội dung tư tưởng bản điạ vào cái vỏ Tam giáo Trung Quốc. Không nên coi thường khả năng đồng hoá, khả năng thích ứng, khả năng liên kết – nhiều khi là bằng cách nhét nội dung của nó hay khoác cái áo của người khác – của Nho giáo, thứ tư tưởng điển hình Trung Quốc. Thế nhưng một hệ tư tưởng cũng phải phát triển đến mức cao mới có đủ sức quy tụ và chi phối mọi mặt hoạt động, mà Nho giáo thì chưa phát triển đến trình độ như vậy. Về căn bản nó chỉ là một học thuyết đạo đức – chính trị chưa giải đáp được nhiều vấn đề của nhu cầu trí tuệ con người. Có những mảnh đất nó chưa với tay tới, có những điạ hạt nó bất lực.

Hán hoá đã thành một xu thế, một thực tế lâu dài trong lịch sử. Xu thế, thực tế đó làm cho nước ta, cũng như Trung Quốc, ở những thế kỷ cuối rơi vào tình trạng trì trệ. Phi Hán hoá không phải đã là một xu thế mạnh mẽ trong quá khứ là một yêu cầu cấp thiết của ngày nay đòi hỏi tự ý thức, tự phê phán để giải phóng tư tưởng, để hiện đại hoá đất nước.

Trong lịch sử các nước, hiện tượng du nhập các hệ tư tưởng từ ngoài vào phổ biến hơn nhiều so với hiện tượng phát sinh ở bản địa. Ngay cả ở các nước có thể tự hào là có nền triết học phát triển cao cũng thường bắt đầu bằng việc du nhập tư tưởng từ ngoài vào rồi sau đó mới phát triển nền triết học của mình qua một cuộc cách mạng tư tưởng. Phát triển thành hệ tư tưởng triết học phải trải qua sự phủ định bằng lý luận hệ tư tưởng cũ. Đó là một bước nhảy vọt trong tư duy. Bước phát triển như thế nhất định phải có những nhu cầu thực tế mới và những điều kiện mới, những điều kiện cho phép nhìn ra sự phi lý của cách nhìn thế giới cũ, những nhu cầu san phẳng trở lực lớn trên con đường phát triển. Ở đây những phát kiến vang dội về khoa học có vai trò cực kỳ quan trọng. Và tất nhiên là phải có người làm, có loại trí thức làm chủ được tri thức của thời đại, có người đủ điều kiện vật chất và tinh thần đảm đương nhiệm vụ tổng kết lịch sử đó. Trong lịch sử nước ta không phải không có những lúc có biến động lớn, gặp trở lực lớn. Có những thời đại rực rỡ, mở ra viễn cảnh huy hoàng, chắp cánh cho tư duy con người. Nhưng những thời đại đó thường là liên quan với chống ngoại xâm; chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền, Lê Hoàn xoá bỏ tình trạng Bắc thuộc, chiến thắng oanh liệt đời Lý, Trần, đời Lê, đời Tây sơn… Đó là những thời đại tinh hoa dân tộc phát triển đến cao độ nhưng dốc hết vào đấu tranh quân sự để dành độc lập. Thắng lợi huy hoàng đã chắp cánh cho thơ ca, cho nghệ thuật nhưng lại không tạo được những điều kiện thực tế cho việc tổng kết triết học. Trong một xã hội mà quan tâm hàng đầu là giữ gìn sự ổn định, sự nhất trí đề phòng giặc ngoài xâm lược, với một thể chế mà làng xã là thành lũy, với một nền sản xuất mà năng suất dựa vào kinh nghiệm, sự cần cù, bàn tay khéo léo thì kĩ thuật không đòi hỏi nhiều khoa học, khoa học không cần nhiều triết học. Nếu có những thời điểm mà có thể nói là nóng bỏng, xuất hiện những nguy cơ xã hội như thế kỉ XIV, XVI, XVIII còn lại vang bóng trong văn học thì cũng cũng không có điều kiện gì để nhìn thế giới theo một cách khác. Với nhu cầu và điều kiện như thế đặt ra làm gì và ai đặt ra được vấn đề quan niệm thế giới theo một cách khác?

Trong lịch sử tư tưởng ta đã có ba lần nhận ngoại viện từ Ấn Độ, từ Trung Quốc, từ phương Tây nhưng không trải qua cuộc cách mạng tư tưởng nào. Ta không có thói quen cuồng tín đổ máu tranh chấp tôn giáo mà ta cũng không có thái độ xác tín đổ mực để cãi nhau cho ra lẽ. Ta không quen đòi hỏi tính chính xác, tính hệ thống, tính nhất quán; ta không có thói quen tư duy triết học. Nếu như đội ngũ trí thức của ta trước đây – những nhà sư và nhà nho – không để lại cho chúng ta một di sản triết học thì ta cũng không nên trách cứ họ. Chưa thoát khỏi xã hội nguyên thủy thì người Việt đã gặp ngay nạn xâm lăng từ phương Bắc và nạn ngoại xâm đe doạ thường trực suốt hai mươi thế kỷ. Hoàn cảnh dẫn ta đi theo con đường tiếp nhận, bắt chúng ta chỉ được nghĩ những chuyện thực tế, dạy chúng ta cách ứng dụng nhanh chóng cái học được để ứng phó. Nhằm mục đích thực tế, cha ông chúng ta đã lựa chọn những cái đã có sẵn, chấp nhận nó, không tính cả chuyện những cái đó hoà hợp hay chống đối nhau, nhưng lại biết cách sử dụng cho có ích không gây ra chống đối. Ðối với thực tế mà nhu cầu đặt ra chỉ như vậy kho Kinh, Tạng của Tam giáo Trung Quốc là quá dư thừa, thậm chí là quá mênh mông, ít ai có điều kiện học đủ. Những trường hợp như Nguyễn Trãi thừa hưởng gia tài sách vở của ông ngoại, một học giả quý tộc làm Tể tướng, tiếp xúc rộng rãi, hay như Lê Quý Đôn nhiều lần đi sứ, lưu lại ở kinh đô Trung Quốc đọc sách và tiếp xúc với nhiều học giả nước ngoài là trường hợp rất hiếm. Đại đa số chỉ học đủ kinh sử để đi thi. Đối với họ Đại toàn còn là quá rườm ra nên phải làm Thuyết ước, phải làm Toản yếu [12] – những bản tóm tắt – cho dễ học. Trong lịch sử học thuật của ta không có những nhà kinh học để cả cuộc đời tra cứu, biện bác làm sáng tỏ nghĩa kinh điển mà cũng không có những nhà tư tưởng nhìn tổng quát cả học thuật quá khứ để phê phán, đề xuất kiến giải riêng. Những người lỗi lạc, có tinh thần tự hào dân tộc đều muốn phát triển Tư văn ở Việt Nam bằng cách đi theo và tiến kịp không thua Trung Quốc chứ không phải phê phán nó để tìm cái của mình. Trên tinh thần đó những nhà sử học viết quốc sử cho giống Thông giám Cương mục [13] , những nhà thơ nhà văn viết cho được như Lý, Đỗ, Âu, Tô. [14] Những cái gọi là phương kỹ như nghề làm thuốc, nghề bói toán, địa lý, thiên văn… cũng là học theo sách Tàu hoặc làm theo kinh nghiệm bản địa nhưng giải thích theo Âm dương, Ngũ hành.

Có một hệ tư tưởng tồn tại trong lịch sử Việt Nam nhưng không có triết học Việt Nam. Người Việt Nam có một cách nghĩ và cách nghĩ đó có khác Trung Quốc. Người Việt Nam có ý thức rõ ràng về thực tế của mình, cởi mở, dễ tiếp nhận cái khác mình, giỏi bắt chước và biết ứng dụng linh hoạt. Cho nên họ đã chuyển từ Đông Nam Á sang Đông Á về mặt văn hoá, đã vay mượn rất nhiều ở tư tưởng Trung Quốc nhưng ở đâu cũng có sự lược bỏ, lược bỏ những chỗ khắt khe, tế toái. Lược bỏ cũng có nghĩa là đơn giản hoá, sơ lược hoá. Thế nhưng làm như thế mà giảm bớt đi được những cái tế toái, cứng nhắc, những cái trái tự nhiên, trái nhân đạo, vốn có nhiều trong cách giải thích kinh điển Trung Quốc thì không phải là dở. Sự linh hoạt – không biết nên giải thích là tinh thần trung dung của Nho giáo, tinh thần nhu đạo, bất tranh của Lão – Trang, tinh thần hỉ xả, từ bi của Phật hay chỉ là tập quán chín bỏ làm mười bản địa – tất nhiên là hạn chế lớn cho cách tư duy chính xác, hệ thống, nhất quán cần thiết để tìm chân lí, để có tư duy khoa học, triết học. Nhưng trong điều kiện nhu cầu đơn giản, hoàn cảnh căng thẳng thì như vậy thường lại có hiệu quả.

Cách tư duy Việt Nam có ưu điểm và nhược điểm. Có thể trước đây là ưu điểm mà ngày nay, từ khi bước vào thời cận hiện đại, thì lại là nhược điểm cực lớn.

*

Xử lý một đối tượng như trên đã trình bày sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn vì chúng ta thiếu tư liệu, khó khăn vì nó là phức hợp. Trong tình hình như vậy chúng ta rất dễ phạm sai lầm. Hoặc là chúng ta đưa vào nhiều cái không phải của nó mà là của sử học, của văn học, thậm chí của truyền thuyết dân gian. Hoặc là chúng ta đưa vào những cái của tư tưởng Trung Quốc làm lẫn lộn khái niệm “triết học Việt Nam” mà ta xác định làm đối tượng. Cũng có thể vì thiếu tài liệu mà sinh ra suy đoán chủ quan, không dừng lại ở chỗ cần thiết, làm sai lạc diện mạo, thực chất đối tượng.

Trong lịch sử của ta có hiện tượng các phương thức sản xuất không đầy đủ, không thay thế nhau bằng cách cái sau phủ định cái trước. Những tàn dư của xã hội nguyên thủy (như ruộng công làng xã), của một chế độ nô lệ không điển hình (như nô tì công và tư), của một chế độ phong kiến phân tán chưa thành hình (như các hào trưởng, hào cường), một chế độ phong kiến tập trung quá sớm nhưng không trọn vẹn vì thiếu kinh tế đô thị, tồn tại song song, đan chéo vào nhau như một dạng trầm tích. [15] Cho nên trong tư tưởng cũng có dạng trầm tích như vậy. Nhưng nước ta lại sớm thống nhất, thống nhất dưới hình thức quận huyện của chính quyền đô hộ rồi thống nhất thành quốc gia độc lập tạo ra điều kiện để dân tộc hình thành sớm. Cho nên ý thức hệ cũng có dạng thống nhất. Sự thống nhất ở đây được thực hiện đơn giản bằng cách kết hợp tư tưởng bản địa với tư tưởng Tam giáo, Âm dương, Ngũ hành và các yếu tố khác. Đó là một mô hình phức hợp, có thể nhìn nó như một khối mà không phải là một chỉnh thể, liên hệ hữu cơ với nhau. Theo tôi hình dung trong mô hình phức hợp các thành tố kể trên không chồng chất lộn xộn mà liên kết nhiều cấp quanh một cái trục là Nho giáo. Sự liên kết các yếu tố đó có mức độ chặt chẽ khác nhau. Có cái chỉ là ghép hờ, có cái được liên kết chặt, có những cái được liên kết thành khối riêng nằm trong cái toàn bộ. Tôi cho rằng Nho giáo là xương sống của khối liên kết đó. Rõ ràng là trong cái toàn thể mà ta hình dung thì Nho giáo là một phần trong nhiều phần, thế nhưng nó là bộ phận then chốt, quy định sự chọn lọc, sự sắp xếp vì nó là học thuyết thống trị, và hơn thế, nó thích hợp với cơ chế chính trị – kinh tế – xã hội.

Viết lịch sử tư tưởng Việt Nam, tư tưởng một dân tộc, trong tình hình tư liệu chủ yếu là tác phẩm văn học, sử học, khoa học kỹ thuật chúng ta lại càng cần lưu ý tới tình trạng liên kết, thẩm thấu hỗn tạp trên. Những mặt ảnh hưởng như thiên đạo, trị đạo, cách tu thân, quan niệm văn, quan niệm lịch sử… không hoàn toàn gắn với vũ trụ quan, nhận thức luận như tư tưởng triết học phương Tây.

Từ những đặc điểm như vậy của đối tượng, ta có thể tìm những biện pháp tiếp cận và giải quyết những vấn đề cụ thể của việc nghiên cứu nó.

Hệ tư tưởng tiến bộ của Người Nhật

Tinh thần thép
Ý chí kiên định
Đoàn kết
Võ Tự Sát

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: